|
Miền
núi chiếm tới 1/5 diện tích trên trái đất, là bể chứa nước trên cao với
những cánh rừng trải rộng, nơi lưu giữ và bảo tồn những hệ sinh thái động
thực vật phong phú, có tác dụng duy trì sự cân bằng sinh thái cho cả hành
tinh. Ở đó
có 1/10 dân số trái đất sinh sống với hàng ngàn dân tộc cùng những sắc
thái văn hoá khác nhau, đặc sắc, kết tinh thêm cho những giá trị của miền
núi, trở thành một phần không thể thiếu của trái đất, sự tồn tại và phát
triển của thế giới.
Do
Miền núi có một vị trí quan trọng, tại kỳ họp thứ 53
của Ðại Hội đồng LHQ tháng 11-1998, Liên Hiệp Quốc tuyên bố lấy năm 2002 là
Năm Quốc tế về Miền núi, kêu gọi Chính phủ các nước, các tổ chức Phi
chính phủ, các tổ chức quốc tế tự nguyện đóng góp và tập trung quan tâm
đến phát triển bền vững miền núi.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Liên hợp Quốc, Ban chỉ đạo quốc
gia Năm quốc tế về Miền núi 2002 đã được thành lập để xây dựng và triển
khai chương trình hoạt động. Nội dung các hoạt động quốc gia hưởng ứng Năm
Quốc tế về Miền núi 2002 tập trung vào tuyên truyền các thành tựu phát triển
của miền núi trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường, giữ gìn
bảo tồn văn hoá truyền thống, đồng thời phổ cập những kiến thức cơ bản về
thiên nhiên, môi trường miền núi. Tăng cường hiểu biết, tạo mối quan tâm
của cả nước đối với các khu vực miền núi và góp phần kêu gọi, thu hút sự
quan tâm đầu tư phát triển kinh tế-xã hội, môi trường miền núi từ bên
ngoài.
Miền núi Việt Nam chiếm 3/4 lãnh thổ trải dài trên một không
gian địa lý rộng lớn từ Bắc tới Nam, có hơn 1/3 dân số sinh sống với trên
23 triệu người trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Ðây là nơi lưu giữ các
thảm rừng nhiệt đới, hình thành các vùng sinh thuỷ, với hệ sinh thái động
thực vật phong phú , có tác dụng duy trì cân bằng môi trường sống cho cả
nước và khu vực. Miền núi cũng là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên thiên
nhiên chủ yếu cho sự nghiệp phát triển kinh tế của cả nước. Sự đa dạng về
điều kiện tự nhiên, đa sắc diện về cấu trúc kinh tế - văn hoá của các
nhóm dân tộc thiểu số, tạo nên sự phong phú cộng đồng các dân tộc Việt
Nam. Miền núi Việt Nam không những có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong đời
sống kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa mà còn góp phần vào sự tồn tại và phát
triển chung của thế giới.
Nhiều năm qua, nhất là trong những năm đổi mới, Ðảng và
Nhà nước Việt Nam đã thường xuyên quan tâm đến vùng miền núi, thông qua
những chủ trương và chính sách quan trọng cùng nguồn lực đầu tư đáng kể
nhằm ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Miền núi đang được thay đổi,
cơ sở hạ tầng, sản xuất nông lâm nghiệp đã có những chuyển biến mới,
nhiều địa phương đã căn bản giải quyết được vấn đề lương thực và
bước đầu sản xuất hàng hoá, rừng được bảo vệ và phục hồi, môi trường
dần được cải thiện. Người dân ngày càng được đáp ứng tốt hơn các nhu
cầu về dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, phúc lợi khác
Ðời
sống vật chất và tinh thần của đồng bào được nâng lên đáng kể. Những
thành tựu ấy là căn bản, tuy nhiên so với mặt bằng chung, miền núi nước ta
vẫn là vùng kinh tế chậm phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật còn
lạc hậu, đời sống đồng bào các dân tộc còn nhiều khó khăn. Sự nghiệp
phát triển miền núi gắn liền với các dân tộc thiểu số đang đứng trước
những vấn đề mới, với những thách thức mới của sự biến đổi và phát triển
của quốc gia cũng như khu vực.
Trước kia, đặc biệt trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân
chủ, mọi chính sách về miền núi và dân tộc chủ yếu phục vụ mục tiêu đảm
bảo khối đại đoàn kết dân tộc. Hiện nay, khi cả nước bước vào nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, "khoảng cách"
giàu và nghèo, giữa miền núi và miền xuôi ngày càng rộng ra. Nhu cầu bình
đẳng trong phát triển gắn với quá trình dân chủ hoá trên các lĩnh vực
đời sống xã hội của mọi vùng, và mỗi người dân ngày càng tăng. Yêu cầu
bảo vệ môi trường, bảo vệ bản sắc văn hoá và những giá trị truyền thống
cũng tăng lên. Cạnh tranh các nguồn lực cho phát triển cũng trở nên gay gắt
hơn. Song tăng cường Ðại đoàn kết dân tộc, thực hiện "Bình đẳng,
tương trợ, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc, giữa các vùng
miền" lại càng bức thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, nhận thức, quan điểm
và các chính sách của chúng ta cũng phải đổi mới cho phù hợp trước yêu
cầu thực tiễn phát triển và thực lực chung của cả nước.
Giá trị về chức năng bảo vệ của miền núi là không
gì có thể thay thế được. Tuy nhiên, các tài sản, giá trị này rất dễ bị
tổn thương nếu không có một chiến lược toàn diện và cách thức tổ chức
quản lý thích hợp. Phát triển miền núi theo hướng thúc đẩy miền núi đảm
bảo duy trì chức năng của nó là một chiến lược đúng đắn và bền vững.
Quan niệm về nghèo đói của vùng miền núi và dân tộc trước
đây nay đã đổi khác. Nghèo đói không chỉ đơn thuần xem xét trên khía
cạnh kinh tế, mà còn phải bao hàm cả về khía cạnh văn hoá và xã hội như:
giáo dục, bảo vệ sức khoẻ cả cộng đồng, bình đẳng về tiếp cận nguồn lực,
văn hoá các dân tộc được bảo tồn và phát huy. Mặt khác, miền núi chịu sự
chi phối nhiều của các nét đặc trưng và sự khác biệt với mặt bằng chung
của quốc gia nên việc giải quyết vấn đề nghèo đói và thúc đẩy phát triển
ở miền núi phải chú ý đến các yếu tố xã hội mới bảo đảm sự thành công
và hiệu quả. Lấy phát triển làm cơ sở để giải quyết vấn đề nghèo đói ở
miền núi. Miền núi, với tính độc lập tương đối và thích nghi cao hơn, ít
phụ thuộc vào biến động của bên ngoài, đầu tư phát triển không nên nặng
tính bao cấp toàn bộ, mà giúp cho miền núi có điều kiện tiếp cận nhiều hơn
với các nguồn lực, phải hỗ trợ, kích thích, phát huy nội lực sẵn có, đảm
bảo cho phát triển bền vững.
Tư tưởng chiến lược cho phát triển miền núi đảm bảo toàn
diện và bền vững là:
Thứ nhất: Chiến lược phát triển miền núi phải
đi liền tăng trưởng kinh tế với giải quyết tốt các mục tiêu cơ bản về xã
hội. Chú ý giảm thiểu rủi ro, tôn trọng yếu tố đặc thù và phát huy lợi
thế so sánh. Miền núi vì cả nước; cả nước chăm lo sự phát triển toàn diện
và bền vững cho miền núi là chăm lo cho chính mình.
Thứ hai: Ðầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phải
đảm bảo sử dụng nguồn lực và lợi ích quốc gia một cách hợp lý, với lựa
chọn các phương án có thể đưa lại hiệu quả cao nhất. Chiến lược phát
triển kinh tế miền núi phải đặt yêu cầu bảo vệ và phát triển nguồn rừng,
bảo tồn sinh thái, giữ vững an ninh quốc gia, tăng cường thế và lực cho quốc
phòng của đất nước.
Thứ ba: Phải giúp đỡ đồng bào ở miền núi biết
tự chủ tạo thu nhập thông qua thay đổi dần tập quán sản xuất cũ, khắc
phục tư tưởng tự ti, ỷ lại; hướng dẫn và khuyến khích phát triển đa dạng
các loại hình sản xuất trên cơ sở phát huy tiềm năng và lợi thế so sánh
của từng vùng. Ðặc biệt chú trọng giữ gìn và phát huy để khai thác tiềm
năng giá trị văn hoá các dân tộc, làm tăng độ gắn kết giữa môi trường -
văn hoá và phát triển.
Thứ tư: Thay vì trợ giúp theo kiểu "bao
cấp" nay phải được thay đổi thông qua việc phát triển giáo dục, nâng
cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực tạo cơ hội cho người miền núi
có nhiều điều kiện tiếp thu khoa học kỹ thuật và công nghệ, tiếp cận tới
các nguồn lực cả bên trong và bên ngoài, tự mình làm giàu cho chính mình và
xã hội.
Thứ năm: Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ
của nhân dân lao động, tổ chức cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ trong
sản xuất, trong quản lý xã hội, trong bảo vệ và phát triển nguồn rừng. Ðảm
bảo dân chủ, tính công khai, minh bạch và tinh thần trách nhiệm cao của đội
ngũ cán bộ công chức nhà nước trong tổ chức thực hiện các chương trình,
dự án mục tiêu trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở miền núi.
Chúng ta cũng nhận thức được rằng tương lai và phúc lợi
của nhân dân miền núi tuỳ thuộc vào khả năng sử dụng một cách khôn khéo,
bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không làm suy thoái các nguồn tài
nguyên và cũng không làm suy thoái môi trường. Vấn đề đặt ra cho chúng ta
là làm thế nào để động viên toàn thể nhân dân ở các vùng, miền của cả
nước dựa vào sức mình là chính để gìn giữ và khai thác bền vững tài
nguyên thiên nhiên vùng miền núi, đó chính là bảo vệ lợi ích của mình và
của đất nước.
Miền núi cần được xã hội nhận thức đầy đủ và sâu sắc
hơn về vị trí, vai trò, tiềm năng phát triển cũng như những khó khăn đang
phải đối mặt. Phát triển miền núi phải tập trung quyết tâm xoá hộ đói,
giảm hộ nghèo, phấn đấu làm giảm khoảng cách giàu, nghèo và phát triển
giữa miền núi với đồng bằng, giữa nông thôn với thành thị.
Ổn định và phát triển bền vững miền núi không chỉ là mục tiêu của Việt Nam
mà cả các quốc gia trên toàn thế giới. "Phấn đấu vì sự phát
triển bền vững của miền núi Việt Nam", đó là bức thông điệp
"miền núi" muốn gửi tới toàn thể chúng
ta.
--------------------
Bài phát biểu của đồng chí Ksor Phước - Bộ
trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc - Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước
về Năm Quốc tế Miền núi 2002 tại lễ mít-ting hưởng ứng IYM 2002 |