Người
Mnông

Cách trang trí như thế này ở mỗi
đầu dải khố Mnông luôn là một trong những đặc điểm nổi bật để phân biệt
với trang phục cùng loại của các dân tộc khác tại Trường Sơn - Tây Nguyên.
Hãy chú ý trước hết đến các cụm tua màu rực rỡ được phân bố ở đôi
đường biên, mép khố và sau đó là sự bố cục của các dải hoa văn hẹp trên
cả hai chiều ngang dọc.

Nhạc cụ bằng tre, nứa rất phong phú
về chủng loại và phổ biến trong các dân tộc tại Trường sơn Tây nguyên.
Người nghệ sĩ Mnông đang cất lên tiếng nhạc rừng thiết tha, réo rắt qua ống
sáo dọc 5 lỗ. |
Tên tự gọi: Mnông.
Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông
Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu
Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Ðêh...
Dân số: 67.340 người.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung
Tây Nguyên nước ta.
Hoạt động sản xuất: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp
"đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo
lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh
thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão
đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng. Ðiều đáng lưu ý là vai
trò của cái cuốc trong nền nông nghiệp cổ truyền Mnông. Ði đôi với nền sản
xuất nông phẩm, việc săn bắn, hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc
sống hàng ngày.
Sản xuất thủ công nghiệp gia đình phổ biến là
nghề đan đồ gia dụng bằng nguyên liệu mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng
bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có một số người biết
làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Sản phẩm là nồi đất các loại,
bát ăn cơm và vò, hũ. Nghề rèn nông cụ không được phát triển lắm trong
các vùng Mnông. Ðặc biệt ở vùng Buôn Ðôn, cư dân có nghề săn bắt và
thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng. Cho đến nay nghề này vẫn được tiếp
tục duy trì tuy số voi săn bắt được hàng năm đã giảm đi đáng kể.
Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến
là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy
thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là
muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Việc chăn nuôi
gia súc, gia cầm không phát triển. Rau củ được trồng trên rẫy để bổ sung
cho nguồn thức ăn do hái lượm đem lại. Thức uống phổ biến là rượu cần.
Mặc: Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố ở trần; còn đàn
bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình
một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện
nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt. Tập quán "cà
răng căng tai" phổ biến trong xã hội cổ truyền, đến nay chỉ còn lại dấu
ấn ở lứa tuổi những người cao niên.
Ở: HIỆN NAY NGƯỜI MNÔNG CƯ TRÚ
tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông,
Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắc Lắc; một bộ phận
cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân
bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước
ta. Tuỳ theo vùng và từng nhóm địa phương mà họ xây cất nhà trệt hoặc nhà
sàn. Nhà trệt có mái tranh gần sát đất và nền đất là mặt bằng sinh hoạt,
rất phổ biến ở nhóm Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Prâng... Còn nhà sàn thường
là sàn thấp, chỉ cách mặt đất khoảng 0m70 đến1m00 và phổ biến ở nhóm
Mnông Kuênh, Mnông Chil, Mnông Bhiêt... Riêng nhóm Mnông Rlâm ở vùng hồ Lắc
xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người £ Ðê. Dù là nhà sàn hay nhà
trệt thì mái vẫn là cỏ tranh: khung và sườn nhà được kết hợp 2 loại
nguyên liệu là tre nứa và gỗ cây... Các bộ phận được liên kết bằng chạc,
ngoãm, dây mây và dây rừng.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng nhờ có 2 quai quàng
qua đôi vai. Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú
trọng ở vùng người Mnông. Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền
độc mộc.
Quan hệ xã hội: Ðơn vị cư trú cơ bản gọi là bon hay uôn,
tương ứng với làng, xóm. Các gia đình trong làng có quan hệ láng giềng, quan
hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Làng nhỏ có độ mươi nóc nhà, làng
lớn có khi tập trung đến vài chục nóc. Quan hệ huyết thống ở đây tính theo
dòng họ mẹ. Dấu vết của chế độ mẫu hệ còn rất đậm nét trong mọi quan hệ
xã hội hiện nay. Song tập quán mẫu hệ đã và đang tan rã ở nhiều thang bậc
khác nhau theo từng nhóm địa phương.
Trong xã hội cổ truyền người đứng đầu mỗi
làng gọi là Rnút hay Kroanh bon, bên cạnh có người phụ tá gọi
là Rnoi, Rnớp. Khi cần chiến đấu thì cử ra một chức sắc gọi là Né
tăm lăm lở làm thủ lĩnh quân sự. Xã hội Mnông vận hành theo tập quán
pháp và Tập quán pháp ca được truyền khẩu qua các thế hệ để làm chuẩn
mực cho mọi ứng xử trong đời sống.

|
Ngôi nhà trệt nhóm
Mnông Prâng ở huyện Ðắc Nông có kiến trúc như mô phỏng và mở rộng của
một vòm hang động. Ðây là lối kiến trúc nhà không có chái. Cửa ra vào
luôn được mở ở hai phía: phía hồi và phía mái, điểm khác biệt so với lối
mở cửa của nhà sàn dài £ Ðê cùng địa phương. |
Cưới xin: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ
cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Ở NHIỀU NHÓM ÐỊA
phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Con sinh ra đều mang họ
mẹ. Trong tập quán cưới xin có 3 nghi lễ là Sa ur, Tâm ốp và Tám
nsông tương ứng với lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn. Chế độ
một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông
phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.
Ma chay: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai
táng, ma chay. Thi hài được quàn tại nhà khoảng 2 ngày đối với người chết
già, chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi
cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn, hổ vồ... và chết
do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết "bất đắc kỳ tử" như vừa
nêu thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách
thầm lặng. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập
quán cải táng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về "lập
nghiệp" ở thế giới của ông bà gọi là Phan.
Nhà mới: Khi một ngôi nhà được xây cất hoàn tất thì lễ khánh
thành để vào nhà mới sẽ được tổ chức linh đình bằng một ngày tiệc mặn
cúng hiến sinh heo. Sau bữa ăn rồi mới đến tiệc rượu cần rất rôm rả trong
tiếng nhạc cồng chiêng.
Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền được coi trọng
nhất. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hàng năm, mỗi làng đều tổ chức tết ăn
mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần lúa. Trâu được hiến sinh trong hội
lễ tưng bừng để chuẩn bị cho một mùa vụ mới tràn đầy hy vọng.
Lịch: Nông lịch cổ truyền Mnông tính theo lịch âm, dựa vào quy trình canh
tác rẫy. Mỗi năm cũng có 12 tháng, mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày.
Học: Trong xã hội cổ truyền Mnông chưa có chữ viết, chỉ có văn chương
truyền miệng. Việc giáo dục, học tập được thực hiện bằng phương pháp chỉ
dẫn trực tiếp, làm mẫu noi theo, bắt chước. Thập kỷ gần đây mới xuất hiện
chữ viết nhưng sự phổ biến rộng rãi đang vấp phải không ít trở ngại.
Văn nghệ: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập
quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác giới thiệu.
Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn
sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ
trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch
đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở
vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thuỷ nổi tiếng từ giữa thế
kỷ XX.
Chơi: Trẻ em thường thích chơi diều, đánh cù, bịt mắt bắt dê, chạy,
nhảy...
--------------------------------
Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam, Nxb. Giáo dục -
1997, tr. 111 |