Người Phù Lá
|

Nhóm Phù Lá Lão cho đến nay vẫn duy
trì nghề trồng bông dệt vải nhằm thoả mãn nhu cầu về mặc của gia đình.
Tranh thủ lúc ở nhà, người phụ nữ bật bông, họ xe sợi lúc trên đường đi
nương.

Chiếc áo của nam giới Phù Lá (nhóm
Lão) có nét riêng, độc đáo thể hiện ở cách trang trí các hạt cườm ở sau
lưng và các mép áo. áo không có cúc thường chỉ được vắt chéo gấu cho bó
thân trước khi giắt vào cạp quần.

Bếp lửa là trung tâm của sinh hoạt
gia đình trong nhà sàn. Khi lên nhà mới, việc đầu tiên rất thiêng liêng là
nhóm lửa và duy trì ngọn lửa trên bếp.
|
Tên tự gọi: Lao Va Xơ, Bồ Khô Pạ, Phù Lá.
Tên gọi khác: Xá
Phó, Cần Thin.
Nhóm địa phương:
Phù Lá Lão - Bồ Khô Pạ, Phù Lá Ðen, Phù Lá Hán.
Dân số: 6.500
người.
Ngôn ngữ: Tiếng nói
thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng Miến (ngữ hệ Hán - Tạng), gần với Miến hơn.
Lịch sử: Nhóm Phù Lá Lão - Bồ Khô Pạ là cư dân có mặt tương đối sớm ở
Tây Bắc nước ta. Các nhóm khác đến muộn hơn, khoảng 200-300 năm trở lại,
quá trình hội nhập của nhóm Phù Lá Hán còn tiếp diễn cho tới những năm 40
của thế kỷ XX.
Hoạt động sản xuất: Người Phù Lá làm nương và ruộng bậc thang, các sản phẩm đan bằng
mây, trúc với nhiều hoa văn, màu sắc như các đồ đựng quần áo, thức ăn
rất nổi tiếng. Họ quen sử dụng nỏ, tên tẩm thuốc độc, trồng bông, dệt vải,
xe sợi bằng con trượt.
Ăn:
Người Phù Lá giã gạo hàng ngày bằng chày tay, ăn cơm tẻ ngày hai bữa, sáng
sớm và tối thích hợp với điều kiện canh tác trên nương. Ðồ nếp dùng trong
lễ cúng, làm bánh. Cơm nếp, các món ăn cá, thịt ướp với gạo rang giã nhỏ
cùng gia vị ớt, rau thơm, thịt nướng rất được họ ưa thích.
Mặc:
Phụ nữ ăn mặc khác nhau giữa các nhóm. Nữ giới nhóm Phù Lá Lão - Bố Khô
Pạ mặc váy, áo ngắn, cổ vuông chui đầu, vừa thêu vừa trang trí bằng hạt
cườm, thắt lưng đính vỏ ốc núi. Các nhóm khác mặc quần, áo dài xẻ ngực
hay áo ngắn xẻ nách.
Chiếc áo của nam giới Phù Lá Lão rất độc đáo,
sau lưng đính nhiều hạt cườm.
Nam nữ Phù Lá thường đeo túi vải bên mình.
Ở:
Người Phù Lá sống tập trung ở các tỉnh: Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai
Châu. Làng xóm thường cách xa nương. Cư dân nhóm Phù Lá Lão thường ở
phân tán thành những chòm xóm với quy mô nhỏ. Các nhóm khác cư trú tập
trung hơn. Tuỳ từng nơi ở nhà sàn hay nhà trệt. Kho thóc quây quần thành một
khu thường làm cách xa nhà để phòng hoả hoạn.
Phương tiện vận chuyển: Nhóm Phù Lá Lão - Bồ Khô Pạ đeo gùi đỡ bằng trán. Trái lại, nhóm
Phù Lá Hán và Phù Lá Ðen cõng gùi trên lưng hoặc sử dụng ngựa thồ để
chuyên chở.
Quan hệ xã hội: Quan hệ láng giềng là mối quan hệ chủ đạo trong các bản Phù Lá.
Những ngày mùa các gia đình trong bản thường giúp đổi công cho nhau, ăn
chung với gia chủ bữa tối. Khi gia đình nào đó có công to việc lớn (cưới
xin, làm nhà, ma chay...) đều nhận được sự giúp đỡ của các thành viên
khác nhau trong bản.
Trong bản có nhiều họ khác nhau, mỗi họ lại chia
thành nhiều chi. Phủ bên ngoài các tên họ bằng âm Hán, Hán - Việt, Việt,
Thái còn có những tên họ riêng bằng tiếng dân tộc. Dấu vết thờ vật tổ
trong các dòng họ còn đặc biệt rõ nét ở nhóm Phù Lá Lão. Quan hệ dòng họ
không thật chặt chẽ.
Cưới xin: Trai gái tự do tìm hiểu trước hôn nhân. Tối tối, gái trai chưa vợ
chưa chồng thường đến tụ tập vui chơi ở nhà bạn gái hay trai và ngủ luôn
ở gian khách, nơi dành cho những người chưa vợ chưa chồng. Nếu yêu nhau
người con trai được vào ngủ chung với người yêu của mình. Sau vài đêm đi
lại với nhau, hai bên thật ưng ý, người con gái trở về ngủ ở nhà mình.
Ðến đêm người yêu lại tới ngủ cùng. Tiếp đó là các lễ dạm, hỏi, cưới
như bình thường. Trong đám cưới có tục uống rượu, hát đối để được
vào nhà đón và đưa cô dâu về nhà trai và nhà gái, tục vẩy nước bẩn và
bôi nhọ nồi lên mặt đoàn nhà trai trước khi ra về, tục lại mặt sau 12 ngày
cưới.
Sinh đẻ: Sản phụ đẻ ngồi. Họ không được ngủ trên giường, mà phải ngủ
trên đệm rơm. Nhau đẻ chôn dưới gầm giường hoặc chân cột dưới gầm sàn,
phía buồng ngủ. Sau khi đẻ kiêng người lạ vào nhà 3 ngày với dấu hiệu úp
nón trên cọc ở trước cửa hay cọc bôi than đen có cắm lá đùm đúm ở ngoài
cửa. Lễ đặt tên 12 ngày sau khi đẻ do thày mo thực hiện. Mỗi người được
đặt hai tên, một tên khác chỉ dùng để cúng báo tổ tiên hay cúng lúc chết.
Ma chay:
Thi hài người chết để ở giữa nhà, đầu quay về phía bàn thờ, phía trên
căng một chiếc chài rộng, đỉnh chài móc dưới mái nhà. Nước rửa mặt cho
người chết không được đổ đi mà để tự bốc hơi hết. Cúng cơm có bát
cơm cắm đôi đũa, con gà (thui hay nướng, không cắt tiết, không rửa). Trong
những ngày tang gia con cái trải đệm rơm ngủ hai bên quan tài. áo quan bằng
thân gỗ, không nắp, đắp bằng dát vầu hoặc đóng bằng ván. Lễ viếng có
kèn, trống. Khiêng quan tài ra đến nghĩa địa mới đào huyệt. Có nơi còn
làm nhà mồ cho người chết. Trong đám tang người Phù Lá rất quan tâm đến
việc giữ gìn hồn vía của những người đi đưa tang để không bị ở lại
dưới mộ hay nghĩa địa.
Thờ cúng: Người Phù Lá thờ riêng tổ tiên nam để phù hộ cho sức khoẻ, tổ
tiên nữ phù hộ cho mùa màng. Lễ cơm mới chủ yếu cúng ở nơi thờ tổ tiên
nữ do phụ nữ đại diện và nữ giới trong nhà được ăn cơm trước. Lễ cúng
bản thường vào tháng hai hàng năm. Họ thực hiện nhiều nghi lễ tín ngưỡng
nông nghiệp trên nương, ruộng. Chiếc chài mới cũng phải qua lễ cúng mới
được dùng.
Thày cúng giữ vị trí quan trọng trong xã hội.
Thày cúng thường được dạy theo cách truyền khẩu vào các dịp tết tháng
giêng, tháng bảy.
Lễ tết: Người Phù Lá ăn tết Nguyên đán, các tết tháng năm, tháng bảy,
cơm mới.
Học: Một
bộ phận người Phù Lá ở các huyện Mường Khương, Bắc Hà, Xín Mần có
truyền thống sử dụng chữ Hán và xem tiếng Hán phương Nam như công cụ giao
tiếp hàng ngày.
Văn nghệ: Kho tàng văn học dân gian phong phú, nhiều truyện cổ tích rất gần
với môtip của người Việt. Người Phù Lá sử dụng kèn, trống. Trai gái thích
hát giao duyên. Nhóm Phù Lá Lão còn biết múa xoè trong âm hưởng của các
làn điệu dân ca Thái.
Chơi:
Trẻ em thích chơi đu quay, đá cầu, trốn tìm, đánh cỏ, chơi cù... Trong các
dịp hội hè, lễ tết... ngay cả người lớn cũng tham gia vào các trò chơi vui
nhộn với phong thái rất hồn nhiên.
--------------------------------
Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam, Nxb. Giáo dục - 1997, tr. 128 |