Người
Sán Chay

Bộ nữ phục truyền thống của Sán Chay
bao gồm váy, áo, yếm, thắt lưng và khăn. Chiếc áo uyên ương mà họ gọi là pù
đăn đinh có trang trí hoa văn ở lưng áo và hò áo. Loại hoa văn thường
thấy là ngôi sao 8 cánh.

Bàn thờ của người Sán Chay khá đơn
sơ, nhiều khi chỉ là một ống tre để cắm hương. Nhưng hàng năm đến trước
tết Nguyên Ðán các bàn thờ được quét dọn và dán lên một mảnh giấy đỏ. |
Tên tự gọi: Sán Chay
Tên gọi khác: Hờn Bán, Chùng, Trại...
Nhóm địa phương: Cao Lan và Sán Chỉ.
Dân số: 114.012 người.
Ngôn ngữ: Tiếng Cao Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ
Thái - Ka Ðai) còn tiếng Sán Chỉ thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán Tạng).
Lịch sử: Người Sán Chay từ Trung Quốc di cư sang cách đây khoảng
400 năm.
Hoạt động sản xuất: Là cư dân nông nghiệp, làm ruộng nước thành thạo
nhưng nương rẫy vẫn có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế và phương
thức canh tác theo lối chọc lỗ, tra hạt vẫn tồn tại đến ngày nay. Ðánh cá
có vị trí quan trọng. Với chiếc vợt ôm và chiếc giỏ có hom việc đánh cá
đã cung cấp thêm nguồn thực phẩm giàu đạm, góp phần cải thiện bữa ăn.
Ăn: Người Sán Chay ăn
cơm tẻ là chính. Rượu cũng được dùng nhiều, nhất là trong ngày tết, ngày
lễ. Ðàn ông thường hút thuốc lào. Phụ nữ ăn trầu.
Mặc: Phụ nữ mặc váy chàm và áo dài có trang trí hoa văn ở hò áo và
lưng áo. Thường ngày, chỉ dùng một thắt lưng chàm nhưng trong ngày tết,
ngày lễ họ dùng 2-3 chiếc thắt lưng bằng lụa hay nhiễu với nhiều màu khác
nhau.
Ở: Người Sán Chay cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta. Họ sống trên
nhà sàn giống nhà của người Tày cùng địa phương.
Phương tiện vận chuyển:
Người Sán Chay thường đeo chiếc túi lưới ở sau lưng theo kiểu đeo ba lô.
Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, ruộng đất dần dần trở
thành tư hữu hoá và phân hoá giai cấp ngày càng rõ rệt. Trong xã hội đã
xuất hiện địa chủ và phú nông. Tuỳ theo từng địa phương, chính quyền thực
dân phong kiến đặt ra một số chức dịch như quản mán, tài chạ,
quan lãnh... Bên cạnh đó có tổ chức tự quản ở các bản do dân bầu
ra gọi là khán thủ. Có nhiều dòng họ, trong đó có những dòng họ
lớn, đông dân như Hoàng, Trần, La, Ninh. Các chi họ và nhóm hương hoả giữ
vị trí quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng.
Cưới xin: Trước khi đón dâu, lễ vật và trang phục của những
người đi đón được tập trung lại ở giữa nhà để quan lang làm phép. Khi
xuất phát, quan lang đứng dưới giọt giang giương ô lên cho mọi người đi
qua. Trên đường về nhà chồng, cô dâu phải đi chân đất. Sau khi cưới, cô
dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến lúc sắp đẻ mới về ở nhà chồng. Ông mối
được cô dâu, chú rể quý trọng, coi như bố mẹ và khi ông mối chết phải
để tang.
Sinh đẻ: Trong vòng 42 ngày sau khi đẻ cấm người lạ vào nhà.
Nếu ai đó lỡ vào mà sau đó trẻ sơ sinh bị ốm thì phải đem lễ vật đến
làm lễ cúng vía. Sau khi đẻ 3 ngày tổ chức lễ ba mai.
Ma chay: Ðám ma do thầy tào chủ trì gồm nhiều nghi lễ chịu ảnh
hưởng sâu sắc của Ðạo giáo và Phật giáo. Ðặc biệt ngôi nhà táng được
làm rất công phu và đẹp.
Làm nhà mới: Việc chọn đất, chọn hướng và chọn ngày giờ để làm
nhà mới rất được người Sán Chay coi trọng.

Nhà sàn là ngôi nhà truyền thống của
nhiều dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái.
Nhà của người Sán Chay thương quay lưng lên đồi phía trước
nhìn ra ruộng và xung quanh là vườn cây lưu niên.
Thờ cúng: Trong nhà người Sán Chay có rất nhiều bàn thờ. Ngoài
thờ cúng tổ tiên, họ còn thờ trời đất, thổ công, bà mụ, thần nông, thần
chăn nuôi... Phổ biến nhất là thờ Ngọc Hoàng, Phật Nam Hoa, Táo Quân.
Lễ tết: Họ ăn tết như người Tày.
Lịch: Người Sán Chay theo âm lịch.
Học: Người Sán Chay sử dụng chữ Hán trong cúng bái và chép bài hát.
Văn nghệ: Ngoài kể chuyện cổ tích, đọc thơ, người Sán Chay còn
yêu thích ca hát. Phổ biến hơn cả là sình ca, lối hát giao duyên nam
nữ gồm 2 loại: hát ở bản về ban đêm và hát trên đường đi hoặc ở chợ.
Bên cạnh đó còn có ca đám cưới, hát ru...
Chơi: Ðánh cầu lông, đánh quay là những trò chơi phổ biến của người
Sán Chay. Trong ngày hội có nơi còn biểu diễn trò "trồng chuối",
"vặn rau cải".
--------------------------------
Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam, Nxb. Giáo dục - 1997, tr. 141 |