Người
Chu Ru

Một kiểu nữ phục truyền thống của
dân tộc Chu Ru là váy và tấm choàng để hở một bên vai. Hầu hết trang phục
của phụ nữ Chu Ru là do người Cơ Ho sản xuất.

Quần trắng, áo dài đen, đầu vấn
khăn trắng là bộ trang phục truyền thống của người đàn ông Chu Ru, thường
chỉ mặc vào các dịp cưới xin, lễ hội, hay đi đám ma... Những sản phẩm này
hầu hết họ mua lại của người Chăm.
|
Tên gọi khác: Chơ Ru, Kru, Thượng.
Dân số: 10.746 người.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynêxia, (ngữ
hệ Nam Ðảo), gần với tiếng Chăm. Có một bộ phận người Chu Ru sống gần với
người Cơ Ho nên nói tiếng Cơ Ho (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me).
Lịch sử: Có lẽ xa xưa, tổ tiên người Chu Ru là một bộ phận trong
khối cộng đồng Chăm; về sau, họ chuyển lên miền núi sống biệt lập với cộng
đồng gốc nên thành người Chu Ru.
Hoạt động sản xuất: Người Chu Ru sống định cư, định canh trên cơ sở một
truyền thống nông nghiệp từ lâu đời. Ruộng ở đây có hai loại: ruộng sình
và ruộng khô. Việc làm thuỷ lợi bằng mương, phai, đê, đập được chú
trọng. Vườn có trên rẫy và vườn ở gần nhà. Chăn nuôi có gia súc và gia
cầm. Săn bắn, hái lượm và đánh cá là hoạt động thường xuyên. Nghề thủ
công gia đình được phổ biến có đan lát, gốm thô.
Ăn: Lương thực chính là gạo tẻ được nấu trong những nồi
đất nung tự tạo. Lương thực phụ có ngô, khoai, sắn. Thức ăn có măng rừng,
rau đậu, cá suối, chim thú săn bắn được. Thức uống có rượu cần và rượu
cất. Nam nữ đều thích hút thuốc lá sợi bằng tẩu.
Mặc: Nghề dệt không phát triển nên những sản phẩm của y phục
như: váy, áo, khố, mền, địu... có được đều do trao đổi với các tộc láng
giềng như: Chăm, Cơ Ho, Raglai, Mạ...
Ở: Hiện tại, họ sống ở hai xã Ðơn và
Loan thuộc huyện Ðơn Dương, một số khác ở huyện Ðức Trọng và Di Linh tỉnh
Lâm Ðồng. Tại hai huyện An Sơn và Ðức Linh thuộc tỉnh Ninh Thuận cũng có
vài ngàn người Chu Ru sinh sống. Người Chu Ru ở nhà sàn làm bằng tre, gỗ,
bương, mai, lợp bằng cỏ tranh. Họ cư trú theo đơn vị làng (plei) và
những gia đình thân thuộc thường xây cất nhà cửa gần gũi nhau.
Phương tiện vận chuyển: Chiếc gùi nan cõng trên lưng vẫn là phương tiện
vận chuyển được sử dụng thường xuyên cho mọi người.
Quan hệ xã hội: Quan hệ chủ đạo trong cơ cấu xã hội Chu Ru là gia
đình mẫu hệ với vai trò được tôn vinh là người phụ nữ, người thừa kế
của gia đình, dòng họ mẹ. Nếu nhìn vào bộ máy tự quản ở các làng thì ta
thấy người đàn ông đang đứng mũi chịu sào trong mọi lĩnh vực để cho xã
hội được vận hành theo định hướng của ông bà xưa. Thực ra, họ đã hành
động theo ý chí của người vợ, người chủ nhân ngôi nhà mà họ đang cư ngụ
theo tục cưới chồng. Xã hội đã có sự phân hoá giàu, nghèo nhưng không có
sự xung đột giữa hai tầng lớp ấy trong làng.
Cưới xin: Người phụ nữ chủ động trong quan hệ lứa đôi. Việc
"hỏi chồng" và "Cưới chồng" được thực hiện qua những
thông tin ở việc trao tặng chàng trai chiếc nhẫn và chuỗi hạt cườm. Sau lễ
cưới, người con gái phải ở dâu nửa tháng tại gia đình chồng để chờ lễ
đón rể về nhà. Họ cư trú phía nhà gái.
Ma chay: Người Chu Ru theo tục thổ táng tại nghĩa địa chung của làng.
Xưa kia, việc ma chay thường được tổ chức linh đình với lễ hiến sinh trâu
bò.
Nhà mới: Việc dựng nhà mới được coi trọng với sự tập trung tâm lực
của gia đình chủ và sự hỗ trợ tích cực của cộng đồng làng. Khi khánh
thành nhà mới và dọn về ở nhà mới, họ hàng và cả làng quây quần giúp
đỡ. Họ tổ chức tiệc mặn để cầu cúng thần linh, thụ lộc và chia vui cùng
gia chủ.
Lễ tết: Một năm với chu kỳ canh tác ruộng nước, người Chu Ru có
nhiều nghi lễ như: cúng thần đập nước, thần mương nước, thần lúa khi gieo
hạt, ăn mừng lúa mới, cúng sau mùa thu hoạch. Ðáng lưu ý là lễ cúng thần bơnung
vào tháng hai âm lịch, dân làng thường hiến sinh dê. Và lễ cúng Yang Wer,
một cây đại thụ ở gần làng, được coi là nơi ngự trị của các thần linh.
Người ta thường làm những hình nộm dã thú bằng gỗ hay củ chuối để đặt
dưới gốc cây.
Lịch: Người Chu Ru theo lịch âm, tính tháng chu kỳ canh tác nông
nghiệp của tổ tiên xưa.
Học: Trước kia, người Chu Ru không có chữ viết, mọi sự truyền
đạt, thông tin đều qua truyền khẩu.
Văn nghệ: Vốn ca dao, tục ngữ rất phong phú, phản ánh việc đề cao vai trò
phụ nữ, ca ngợi chế độ gia đình mẫu hệ. Về nhạc cụ, đáng lưu ý là
trống, kèn và chiêng. Ngoài ra còn một số nhạc cụ khác như: rtông,
kwao, terlia là những nhạc cụ đặc sắc của người Chu Ru. Trong hội hè,
nhạc cổ truyền Chu Ru thường được cất lên cùng với vũ điệu tamga
nổi tiếng.
Chơi: Sở thích của trẻ em là đánh cù, chơi thả diều (diều
bướm và diều sáo). Chúng cũng hay chơi trò kéo co, đi cà kheo, đuổi bắt
nhau...
---------------------------------
Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam, Nxb. Giáo dục - 1997, tr. 25 |