Người
Gié - Triêng
|

Ðây là chiếc gùi 3 ngăn dành riêng
cho đàn ông sử dụng khi đi rừng đi rẫy. Nó được đan bằng mây. Phía trên
của dây đeo và phần miệng áp vào lưng người đeo có ốp thêm những miếng da
con mang (hoẵng).
Hiện vật Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Chiếc gùi này cư dân nhóm Giẻ dùng
để gùi lúa khi thu hoạch. Nó được đan bằng cật nứa. Nan tạo hoa văn có
màu đen bóng do được hơ nhiều lần trong khói nhựa thông.
Hiện vật Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. |
Tên tự gọi: Mỗi
nhóm có tên tự gọi riêng như: Gié, Triêng, Ve, Bnoong.
Tên gọi khác: Cà Tang, Giang Rẫy.
Nhóm địa phương: Gié (Giẻ), Triêng
(Triêng), Ve, Bnoong (Mnoong). Nhóm Gié đông hơn cả.
Dân số: 26.924 người.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc
nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me
(ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi với tiếng Xơ Ðăng, Ba Na. Giữa các nhóm tiếng
nói có những sự khác nhau nhất định. Chữ viết hình thành trong thời kỳ
trước năm 1975, cấu tạo bộ vần bằng chữ cái La-tinh.
Lịch sử: Người
Gié-Triêng là cư dân gắn bó rất lâu đời ở vùng quanh quần sơn Ngọc Linh.
Hoạt động sản xuất:
Họ làm rẫy là chính. Xưa trồng nhiều lúa nếp, nay lúa tẻ giữ vị trí chủ
đạo, gồm nhiều giống khác nhau. Cách thức canh tác như ở các dân tộc miền
núi khác trong vùng. Công cụ chủ yếu gồm rìu và dao quắm để phát, gậy đẽo
nhọn đầu hoặc có mũi sắt để chọc lỗ khi gieo trỉa, cái cuốc con có cán là
đoạn chạc cây để làm cỏ. Tất cả cây trồng đều ở rẫy, ngoài lúa còn có
ngô, sắn, bo bo, kê, khoai lang, khoai môn, bầu bí, dưa, thuốc lá, bông, mía,
chuối... Vật nuôi phổ biến là gà, lợn, chó, trâu, chỉ khi dùng vào việc
cúng tế mới mổ thịt. Nguồn thức ăn kiếm được nhờ hái lượm, săn bắn và
đánh bắt cá đóng vai trò quan trọng. Người Gié-Triêng có sở trường về
đan lát, nghề dệt vải phát triển ở nhiều nơi, vùng Ðắc Pét có truyền
thống đãi vàng sa khoáng và làm đồ gốm ở trình độ chưa biết dùng bàn
xoay và chưa biết xây lò nung. Quan hệ hàng hoá trước kia dùng vật đổi vật,
nay đã dùng tiền.
Ăn: Mỗi ngày
người Gié-Triêng ăn 3 bữa (sáng, trưa, tối). Họ ưa thích các món nướng
đối với cá, thịt. Canh cũng là món thường có trong các bữa cơm. Tập quán
ăn bốc tồn tại lâu đời (nay việc dùng đũa, bát khá rộng rãi). Ðồ uống
truyền thống là nước lã, rượu cần chế từ gạo, ngô, sắn, kê và rượu chế
từ nước một loại cây họ dừa mọc hoang trên rừng. Nam nữ đều hút thuốc lá
bằng tẩu.
Ở: Tại huyện Ðắc Glây
tỉnh Kon Tum có nhóm Gié và Triêng, tỉnh Quảng Nam có nhóm Bnoong ở huyện
Phước Sơn và Trà My, nhóm Triêng và Ve ở huyện Giằng. Hình thức nhà
sàn dài gồm nhiều "bếp" là lối kiến trúc truyền thống phổ biến,
đặc biệt ở vùng người Gié và Bnoong có khi cả làng ở trong một vài ngôi nhà.
Về sau, nhà trệt đã xuất hiện.
ở nhiều nơi, trừ nhóm Bnoong, trong
làng thường dựng nhà công cộng cao to và đẹp. Tập quán bố trí nhà tạo
thành một vòng ôm quanh khoảng trống ở giữa là một nét văn hoá lâu đời
của họ ở Giằng và một số nơi ở Ðắc Glây.
Mặc: Theo
nếp cổ truyền, nam quấn khố, ở trần, trời lạnh thì choàng tấm vải cho ấm
người; nữ mặc áo, quấn váy, có nơi dùng loại váy ống dài để che luôn cả
thân trên, từ ngực trở xuống. Phụ nữ ưa đeo nhiều trang sức: các loại vòng
bạc, đồng, chuỗi cườm, đeo cổ, tay, chân, tai, phụ nữ các gia đình khá giả
có cả hoa tai bằng nhà voi. Y phục theo kiểu người Việt hiện tại đã thâm
nhập tận các làng xa xôi hẻo lánh.
Phương tiện vận
chuyển: Người Gié-Triêng dùng gùi. Có những loại và cỡ
gùi khác nhau: gùi đan thưa, đan dày, gùi đeo theo người hàng ngày, gùi để
đồ tại nhà, gùi có hoa văn nan nhuộm đen, gùi không dùng nan nhuộm, gùi cho
riêng nam giới...
Quan hệ xã hội:
Dân làng thuộc các họ khác nhau, từng họ có truyền thuyết về cội nguồn của
mình, có tên gọi và có kiêng cữ riêng. Xưa kia, có những họ của nữ, có
những họ của nam. Quan hệ cộng đồng trong làng thường xuyên và khá chặt
chẽ. "Già làng" có uy tín cao nhờ hiểu biết, nhiều kinh nghiệm, cũng
thường là người có cộng lập làng. Xã hội cổ truyền có nhiều biểu hiện về
tàn dư thời mẫu hệ và bước chuyển tiếp từ chế độ mẫu hệ sang chế độ
phụ hệ.
Cưới xin: Trai gái
tự tìm bạn đời, cha mẹ thường chấp thuận nếu không vi phạm tập tục. Việc
cưới xin trải qua nhiều bước, bao giờ cũng có lễ kết gắn cô dâu chú rể
với nhau (thông qua việc họ đưa cơm với gan gà cho nhau cùng ăn và uống chung
bát rượu, hoặc có nơi họ trùm chung tấm chăn), và cô gái phải tự chuẩn bị
100 bó củi đẹp từ trước để đem đến nhà trai. Nhà trai thường tặng nhà
gái đồ đan và nhận được của nhà gái những sản phẩm dệt. Trước kia, đôi
vợ chồng cư trú luân phiên mỗi bên vài năm.
Sinh đẻ: Chồng
phải làm lều ngoài rừng cho vợ đẻ. Sản phụ tự lo một mình trong sinh nở, sau
10 ngày mới được mang con về nhà. Ðứa bé được coi là thành viên của gia
đình sau khi đã tiến hành một nghi lễ cúng cho nó gia nhập vào cộng đồng
những người thân thuộc trong nhà.
Ma chay: Phong tục
ở các nhóm không hoàn toàn giống nhau. Song nét chung là quan tài đẽo độc
mộc, có nơi tạc hình đầu trâu trên đầu. Người chết được mai táng (có
tài liệu viết xưa kia hoả táng); nhà mồ dựng không cầu kỳ, có rào xung
quanh. Những đồ vật đem ra mộ cho người chết nếu là chiêng, ché thì đều
đập thủng hoặc vỡ. Trong quá khứ, người ta từng biết đến tục chôn chung
những người chết cách nhau không lâu trong gia đình vào một quan tài. Suốt 10
ngày khi làng có người mới chết, trước khi tang gia cúng "nhắc nhở"
cho hồn người chết ở yên bãi mộ, dân làng không vào rừng, không đi làm xa
nhà. Nghi thức đoạn tuyệt với mộ người chết thường được tổ chức vào dịp
đầu năm tại cạnh ngôi mộ.
Thờ cúng: Người
ta quan niệm có nhiều "thần linh" và mọi vật, cũng như con vật, con
người đều có siêu linh ẩn trú. Các vị thần nước, thần trời (đồng nhất
với sấm sét), thần mặt trời, thần đất, thần làng, thần làng, thần lúa,
thần đá, thần cây đa... được người Gié-Triêng cầu cúng. Mỗi làng thường
có vật "thiêng" như thứ bùa hộ mệnh, được cất dấu ở rừng và giữ
bí mật với người ngoài. Dòng họ, gia đình cũng có vật "thiêng"
để cầu mùa gắn với canh tác lúa. Ma người chết cũng được coi là một thế
lực chi phối đối với cuộc sống. Liên quan đến thế giới siêu nhiên đó, có
rất nhiều lễ thức tín ngưỡng theo tập tục.
Lễ tết: Mỗi khi
cúng bái đều có hiến tế, mà máu con vật hiến tế là quan trọng nhất. Lễ
trọng phải đâm trâu, và xa xưa có nơi phải cúng bằng máu người trong lễ
thức đặc biệt liên quan đến thần lúa. Trong chu kỳ sản xuất hàng năm
thường có lễ thức khi chọn đất rẫy, phát rẫy, gieo trỉa, khi hạn hay úng,
khi mở đầu tuốt lúa, khi đưa lúa lên kho, khi được 100 gùi lúa trở lên và
khi lấy thóc lần đầu về ăn. Gắn với chu kỳ đời người, có các lễ thức
trong thời kỳ mang thai, trong và sau khi đẻ, khi đặt tên, khi bị đau ốm, khi
cưa răng, trong việc cưới xin, khi chết đi. Tết dân tộc thường sớm hơn tết
Nguyên đán, tổ chức theo làng.
Lịch:
Người Gié-Triêng căn cứ vào chu kỳ mặt trăng để tính ngày. Theo đó, tên
gọi mỗi ngày cụ thể trong tháng phần lớn đều được lặp lại, tuy một ngày
ở nửa đầu và một ngày ở nửa cuối tháng. Mỗi năm 12 tháng. Từng tháng có
những công việc trọng tâm nhất định.
Văn nghệ:
Bộ nhạc cụ phong phú, quý giá và quan trọng nhất là cồng chiêng. Tuỳ nơi,
người ta dùng 3 cồng với 7 hay 9 chiêng, hoặc 6 chiêng, hoặc 4 chiêng... Có khi
cồng chiêng tấu cùng với trống, với ống nứa. Nguyên ống nứa cũng là loại
nhạc cụ để thổi, vỗ, gõ. Các loại đàn sáo, khèn đều đơn giản, thông
dụng trong đời sống âm nhạc. Người Gié-Triêng, cũng như các tộc khác, có
những làn điệu dân ca cổ truyền và nhiều truyện cổ.
---------------------------------
Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam, Nxb. Giáo dục - 1997, tr. 63 |