Người
Hrê

Người Hrê dệt vải theo cách thức cổ
truyền Inđonêdiêng: Bộ dụng cụ gồm những que, thanh, ống rời nhau đều làm
bằng gỗ, tre. Chỉ khi giăng thảm sợi để dệt, chúng mới liên kết với nhau
thành một hệ thống. Hoa văn được dệt cùng với vải.

Mỗi mùa canh tác rẫy có nhiều lễ
thức tôn giáo. Cũng như các tộc Thượng khác, người Hrê luôn hi vọng nhờ
đó mùa màng sẽ tốt tươi, lúa nhiều, no ấm. Trong các lễ thức, bao giờ cũng
có hiến tế đồ ăn thức uống cho thần linh, đặc biệt là tiết, gan và thịt
con vật dùng để tế. |
Tên tự gọi: Hrê, trước kia thường gắn với tên sông sở tại như: "người
Krê" - sông Krế ở Sơn Hà; "người Hrê" - sông Hrê ở Ba Tơ;
"người nước Ðinh" - sông Ðinh ở An Lão)...
Tên gọi khác: Chăm
Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Mọi Luỹ, Mọi Sơn Phòng, Mọi Ðá Vách, Chăm Quảng
Ngãi, Mọi Chòm, Rê, Màn Thạch Bích.
Dân số: 94.259
người.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (Ngữ hệ Nam Á). Từ thời kỳ trước năm 1975, chữ viết ra đời
bằng cách dùng hệ thống kí tự La-tinh để phiên âm, được sử dụng rộng
rãi, nhưng nay đã bị mai một.
Lịch sử: Người Hrê thuộc số cư dân sinh tụ rất lâu đời ở
vùng Trường Sơn - Tây Nguyên.
Hoạt động sản xuất: Phần lớn người Hrê làm ruộng nước là chính, chỉ có một bộ phận
sống chủ yếu nhờ rẫy. Lối canh tác rẫy phát - đốt - chọc trỉa, với bộ nông
cụ đơn giản gồm rìu, dao quắm, gậy chọc lỗ, cái nạo cỏ, khi thu hoạch thì
dùng tay tuốt lúa. Cách thức làm ruộng tương tự như ở người Việt vùng nam
Trung bộ (dùng cày, bừa có đôi trâu kéo, biết gieo mạ và cấy, dùng liềm và
vằng để gặt...) nhưng còn thấy dấu vết của tập quán trồng lúa rẫy.
Từng gia đình thường nuôi trâu, lợn, chó, gà.
Nghề thủ công chỉ có đan lát và dệt vải nhưng nay cũng không phát triển,
nhất là nghề dệt chỉ còn ở vài nơi. Việc giao lưu hàng hoá thường theo
hình thức trao đổi vật trực tiếp. Hái lượm, săn bắt và đánh cá cung cấp
nguồn thức ăn quan trọng cho mỗi gia đình.
Ăn:
Người Hrê thường ngày ăn cơm tẻ, ngày lễ tết có thêm cơm nếp.Thức ăn
chủ yếu là những thứ kiếm được và muối ớt, khi có cúng bái thì thịt con
vật hiến sinh được dùng làm đồ nhắm và cải thiện bữa ăn.Thức ăn đựng
trong các vật làm bằng mo cau. ¡n bốc. Thức uống có nước lã, nước chè xanh,
rượu cần (nay rượu cất khá thông dụng). Tập quán hút thuốc lá và ăn trầu
cau phổ biến.
Ở:
Người Hrê sống chủ yếu ở miền tây tỉnh Quảng Ngãi (các huyện Sơn Hà, Ba
Tơ, Minh Long) và tỉnh Bình Ðịnh (huyện An Lão), một số ít ở tỉnh Kon Tum
(huyện Kon Plông). Nhà sàn có cửa ra vào ở mỗi đầu và một mặt bên, có 2
hàng cột tạo thành 2 vì cột, trên đỉnh đốc có hình cặp sừng thú, vách
nghiêng phía trên ra ngoài. Mặt sàn thường hơi cao một chút về bên không
đặt bếp đun, nhằm tạo thế nằm thoải mái: chân thấp hơn đầu. Nhà ở trong
làng đều dựng ngang triền đất dốc, tránh để đòn nóc chĩa hướng chắn
ngang dòng chảy của sông suối.
Ngày nay, hầu hết người Hrê mặc theo kiểu người
Việt: tuy nhiều phụ nữ còn dùng váy nhưng không phải loại vải sợi bông tự
làm ra với những dải hoa văn ở hai đầu ống váy và khi mặc không tạo thành
hai tầng như xưa.
Mặc:
Theo nếp cũ, đàn ông đóng khố, chít khăn, khi dự lễ hội hoặc đi xa thì
mặc áo; đàn bà có váy ống mặc kiểu hai tầng. Có áo, khăn trùm đầu. Những
vòng đeo trang sức làm bằng đồng bạc, nhôm và chuỗi cườm; riêng nam giới
không trang sức ở tai.
Phương tiện vận chuyển: Người Hrê quen dùng gùi sau lưng, mỗi quai gùi quàng giữ vào một
vai: chở thóc gạo thì dùng gùi đan dày, chở củi, sắn thì có gùi mắt thưa,
đàn ông đi rừng hay đi trận có riêng loại gùi như chiếc túi hoặc gùi ba
ngăn. Ngoài ra, người Hrê còn gánh lúa khi gặt và đội đồ vật trên đầu.
Quan hệ xã hội: Già làng có uy tín và ảnh hưởng lớn. Trước kia sự
phân hoá xã hội đã khá sâu sắc, chế độ tôi tớ - đặc biệt là đi ở vì
nợ - có phần khắc nghiệt hơn nhiều tộc Thượng khác, hiện tượng tranh chiếm
và tập trung ruộng đất (theo đó là sự xác lập quyền thế của một số cá
nhân) đã tương đối phát triển. Tuy vậy, quan hệ trong làng vẫn thể hiện
tinh thần cộng đồng công xã.
Cưới xin: Cư trú phía chồng hay phía vợ là tuỳ thoả thuận giữa
hai gia đình, phần đông sẽ dựng nhà ở riêng sau khi có con đầu lòng. Ðám
cưới có nghi thức dâu và rể kết gắn với nhau thông qua việc trao bát rượu,
miếng trầu cho nhau hay quàng chung một vòng dây sợi... Vợ goá có thể lấy
tiếp em chồng, chồng có thể lấy cả em vợ. Con cô - con cậu, con gì - con già,
con có chung mẹ hoặc cha đều không được lấy nhau.
Sinh đẻ: Việc sinh đẻ diễn ra bên cạnh bếp lửa trong nhà, có là đỡ hộ
sinh, cắt rốn bằng dao, cái rau được gói trong mo cau rồi đem bỏ trong rừng
hoặc chôn cạnh nhà. Sản phụ nghỉ ngơi vài chục ngày, kiêng ăn cá niêng,
trứng, chuối, thịt gà trắng... Ðứa bé đầy tháng mới làm lễ đặt tên.
Ma chay: Quan tài độc mộc có dáng hao hao chiếc thuyền. Người chết được
quàn tại nhà từ 1 đến 3 ngày rồi chôn trong bãi mộ của làng. Mộ đắp thành
gò dài trên dựng nhà mồ có nóc mái làm như nhà ở. Tang gia "chia
của" tựa hồ cho người chết đi ở riêng: từ đồ ăn thức uống cho đến
vật dụng trong nhà, từ trang phục, công cụ lao động... đều có ở mộ.
Thờ cúng: Người Hrê có nhiều kiêng cữ và lễ thức tôn giáo, xuất phát từ
quan niệm mọi vật đều có hồn hay ma và con người bị các lực lượng siêu
nhiên chi phối. Khi ốm đau, rủi ro, khi làm nhà, mang thai, đẻ khó, có người
chết, khi gieo cấy và gặt hái, khi gieo trỉa và tuốt lúa, khi đưa thóc lên
kho và lần đầu lấy thóc về ăn... đều cúng bái. Cộng đồng làng chỉ tổ
chức cúng cầu an, tránh dịch bệnh, còn lại đều là các lễ cúng của gia
đình.
Lễ tết: Lễ hội có đâm trâu là lớn nhất, dù đó là lễ của làng hay một
nhà cũng đông vui. Hàng năm, người Hrê ăn tết vào khoảng tháng 10, sau khi
thu hoạch lúa, nay nhiều làng theo tết Nguyên đán. Ngày tết có cúng cho trâu
và lợn, cầu sinh sôi, cúng mời tổ tiên và cúng sức khoẻ cho mọi người trong
nhà; có bánh gói bằng gạo nếp, rượu, thịt... Dịp tết làng làm lễ cúng tập
thể cầu mong mưa thuận, đủ nước.
Lịch:
Cách tính tương tự âm lịch của người Việt. Trong tháng, phân biệt ngày
tốt, ngày xấu và chọn ra những ngày nên làm việc này, không nên làm việc
kia.
Văn nghệ: Nhạc cụ thường dùng là bộ chiêng ba chiếc, bộ cồng ba chiếc, trống,
các loại đàn ống tre hoặc có vỏ bầu làm hợp âm, sáo, nhị, đàn môi, nữ
giới chơi bộ ống vỗ hai chiếc. Dân ca phổ biến nhất là điệu Katê và
Ka choi. Truyện cổ (Hmon) được lưu truyền như một vốn quý trong văn
hoá dân tộc, gồm những đề tài khác nhau. Các mô típ hoa văn hình học dệt
trên vải và thể hiện trên đồ đan cũng mang tính truyền thống lâu đời.
---------------------------------
Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam, Nxb. Giáo dục - 1997, tr. 76 |