Người
Khơ Me

Tạo dáng đồ gốm.

Chùa và sinh hoạt Phật giáo giữ vai
trò quan trọng trong đời sống tinh thần và xã hội. |
Tên tự gọi: Người Khơ Me.
Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me Krôm.
Dân số: 895.299 người, là dân tộc có số
dân đông nhất trong các dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơ Me ở Việt Nam.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ
Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người
Khơ Me và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng đồng bằng sông Cửu
Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khơ Me là cư
dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp
khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng
với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày
chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để
vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa,
tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái
vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khơ Me có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan
lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản,
công cụ chính là hòn kê (Kleng), bàn dập (Chơ), chưa
dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung
thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà
ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng
bằng sông Cửu Long ưa dùng.
¡n: Người Khơ Me trồng hơn 150 giống lúa
tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày
có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn
Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng
nhất là mắm Bhóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm
tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm Bhóc làm
bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa
thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà
rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần
âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà
ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc
khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin,
nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ
đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl
xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô
dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng
khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo
dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt
tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ
để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải
(thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ
sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam
bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn
mặn ven biển, vùng đồi núi Tây nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khơ Me
trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường
sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay
những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe,
thuyền của người Khơ Me có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền
" tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất
là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay
chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng
nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng
10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các
"Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một
chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung
trong một nhà. Xã hội Khơ Me vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khơ Me có rất nhiều họ khác nhau. Những
họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những
họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương,
Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khơ Me như U, Khan, Khum. Tình trạng
ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống
trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp
đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm
hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải
ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng,
nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau
khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh
ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1
đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào
rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành
các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa
(ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi
vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khơ Me ở
các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và
mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khơ Me có cả một kho
tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ
ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một
nền âm nhạc vừa có nguồn gốc ấn Ðộ,
vừa có nguồn gốc Ðông Nam á. Nghệ
thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá
Khơ Me. Trong các ngôi chùa Khơ Me của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài
tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu
chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những
dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
---------------------------------
Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam, Nxb. Giáo dục - 1997, tr. 93 |