Người
La Chí
|

Ði xa người La Chí thường đeo túi
vải nhuộm chàm vắt chéo qua vai.

Trong lễ cưới của người dân tộc La
Chí, khi đón dâu về tới chân cầu thang nhà sàn, nhà trai chuẩn bị sẵn một
thùng nước ấm để người phù dâu rửa chân cho cô dâu và rửa chân mình
trước lúc bước lên cầu thang vào nhà. |
Tên tự gọi: Cù
tê.
Tên gọi khác: Thổ Ðen, Mán, Xá.
Dân số: 7.863 người.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ
Ka Ðai (ngữ hệ Thái Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng La Ha, Cơ Lao, Pu Péo.
Lịch sử:
Người La Chí có lịch sử cư trú lâu đời ở Hà Giang, Lào Cai.
Hoạt động sản xuất:
Người La Chí giỏi nghề khai khẩn và làm ruộng bậc thang, trồng lúa nước. Họ
gặt lúa nếp bằng hái nhắt còn gặt lúa tẻ bằng liềm, đập lúa vào máng gỗ
lấy thóc ngay ở ngoài ruộng. Họ sử dụng cả ba loại nương với các công cụ
sản xuất khác nhau: gậy chọc lỗ, cuốc, cày. Người ta dành nương tốt nhất
để trồng chàm, bông.
Ăn: Người La Chí
có cách nấu và ghế cơm bằng hơi nước rất độc đáo. Cơm nấu trong chảo to,
cơm sôi thì vớt lên cho vào chõ đồ như đồ xôi. Cơm dỡ ra không bị nát
mà khô dẻo nhờ được đồ chín bằng hơi nước nóng. Có nhiều cách giữ thực
phẩm để ăn dần như sấy khô, làm thịt chua là phổ biến nhất. Da trâu sấy
khô là món ăn rất được ưa chuộng.
Họ thích để răng đen. Răng càng đen càng đẹp.
Thanh niên thích bịt răng vàng coi đó là hình thức làm duyên làm dáng, dấu
hiệu của sự trưởng thành.
Mặc: Ðàn ông mặc
áo dài năm thân, cài khuy bên nách phải, tóc dài quá vai, đội khăn cuốn hay
khăn xếp, thích đeo túi vải chàm có viền đỏ xung quanh để đựng diêm thuốc
và các thứ lặt vặt. Phụ nữ mặc quần, một số ít còn mặc váy. Bộ y phục
truyền thống là chiếc áo dài tứ thân xẻ giữa, yếm thêu, thắt lưng bằng
vải. Vào dịp tết, lễ người ta còn diện ba chiếc áo dài lồng vào nhau. Nữ
giới ưa dùng khăn đội đầu dài gần 3 mét. Màu chàm đen rất được ưa
thích. Nữ đeo vòng tai, vòng tay. Nam chỉ đeo vòng tay. Thầy cúng mỗi khi hành
lễ có y phục riêng. Ðó là bộ quần áo thụng, dài quá mắt cá chân, xẻ
giữa, có thắt lưng bằng vải, đầu đội mũ vải rộng, có quai. Trong một số
nghi lễ, người hành lễ đeo một miếng da trâu khô hoặc đội nón.
Ở: Họ thường sống
từng làng ở vùng núi đất các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần (Hà Giang). Nhà
của mỗi gia đình là một quần thể kiến trúc gồm nhà sàn - nhà trệt - kho
thóc trong một phạm vi không gian hẹp. Kiểu kiến trúc kết hợp chặt chẽ giữa
sàn và nhà trệt là một sáng tạo văn hoá độc đáo. Mỗi nhà gồm hai phần
bằng nhau, mái lồng vào nhau, phần nhà sàn để ở, phần nhà trệt là nơi làm
bếp.
Lên nhà mới phải mời thầy cúng về cúng xua
đuổi ma bằng cách dùng ba cây cỏ lá khua bốn góc nhà, bắt đầu từ góc của
bố mẹ trước. Nếu người con trai đã có bàn thờ ở nhà cũ thì tháo bàn thờ
đó về lắp ở nhà mới trong vị trí của người chủ gia đình. Trong suốt 13
ngày kể từ hôm lên nhà mới, bếp lửa luôn luôn sáng thì mới may mắn.
Phương tiện vận chuyển:
Có sự kết hợp giữa cách vận chuyển của cư dân vùng cao và cư dân vùng
thung lũng. Phụ nữ phổ biến dùng địu đan bằng giang hoặc địu vải. Cái địu
đều có quai đeo trên trán để chuyên trở. Ðàn ông dùng địu có hai quai
đeo vai kiểu địu của người Hmông hoặc dùng đòn gánh đôi dậu. Người La
Chí địu trẻ em trên lưng khi đi xa hoặc lúc làm việc.
Chiếc máng lần là phương tiện dẫn nước phổ
biến về đến tận nhà hay gần nhà. Từ bến nước người ta chứa nước vào
những ống bương dài tới 1,5m và vác lên nhà sàn để gần chạn bát dùng
dần.
Dùng ngựa để thồ hàng cũng là một phương tiện
phổ biến.
Các quan hệ xã hội:
Gia đình ba thế hệ hay các cặp vợ chồng cùng thế hệ chung sống với nhau là
phổ biến. Mỗi họ có người đứng chăm lo việc cúng. Ðó không phải là
trưởng họ mà chỉ là người biết cúng. Người ta chọn người giữ vị trí này
bằng cách bói xem xương đùi gà.
Người La Chí có cách gọi tên theo nguyên tắc
phụ tử liên doanh với công thức là: họ - pô (bố) - tên con - tên riêng của
người được gọi. Người phụ nữ có con được gọi theo công thức sau: Mìa
(mẹ) - tên con cả - tên chồng.
Tục nhận bố mẹ nuôi cho trẻ sơ sinh khá phổ
biến. Trẻ chào đời sau ba buổi sáng, gia chủ đặt một sợi chỉ đỏ trên một
trên một bát nước đầy ở trên bàn thờ, chờ ai đó vào nhà trước sẽ
được làm bố mẹ nuôi, đặt tên cho cháu bé. Trẻ khóc nhiều được quan niệm
là tên chưa hợp, phải bói tìm dòng họ thích hợp làm bố mẹ nuôi đặt tên
cho con.
Thờ cúng: Người
ta cúng tổ tiên vào các dịp lễ tết. Tổ tiên được cúng ba đời đối với
nam, hai đời đối với nữ. Theo phong tục, bố mẹ chôn ngày nào con cái nhớ
suốt đời không được gieo giống hay cho vay, mượn vào ngày đó. Ðó không
phải là ngày sinh sôi, phát triển.
Trong một nhà có nhiều bàn thờ cho mỗi người
đàn ông. Bàn thờ dựng theo thứ tự của bố, con trai út, các con trai thứ,
trong cùng của con trai cả. Mỗi bàn thờ được coi là hoàn thành phải qua ba
lần cúng dỡ đi lập lại bàn thờ mới.
Học: Các kiến
thức và kinh nghiệm dân gian được trao truyền giữa các thế hệ bằng miệng.
Thần thoại, cổ tích đặc biệt phong phú giải thích cho thế hệ trẻ nhiều hiện
tượng thiên nhiên và xã hội theo quan niệm dân gian.
Văn nghệ: Ngày
tết, lễ trai gái thường hát đối đáp, chơi đàn tính 3 dây, đàn môi.
Trống, chiêng được dùng phổ biến.
Chơi: Tết Nguyên
đán nam nữ thường tập trung ở bãi rộng chơi ném còn, đánh quay, chơi đu
thăng bằng. Tết tháng tám họ chơi đu dây. Trẻ em thích chơi ống phốc.
---------------------------------
Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam, Nxb. Giáo dục - 1997, tr. 87 |